Chùa Keo Hành Thiện

"Chùa Keo Hành Thiện hiện tọa lạc tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình, là một quần thể kiến trúc tôn giáo gồm Chùa Keo trong (Thần Quang tự) và Chùa Keo ngoài (Đĩnh Lan tự). Di tích thờ Phật theo hình thức “tiền Phật, hậu Thánh”, đồng thời phụng thờ Đức Thánh tổ – Thiền sư Dương Không Lộ, nhân vật có vai trò quan trọng trong lịch sử Phật giáo thời Lý và được nhân dân Hành Thiện suy tôn là người có công khai sáng chùa và tạo lập làng.
Nguồn gốc của Chùa Keo Hành Thiện gắn với chùa Nghiêm Quang, được Dương Không Lộ dựng vào năm Tân Sửu 1061, đời vua Lý Thánh Tông, trên vùng đất Giao Thủy. Đến năm 1167, chùa được đổi tên thành Thần Quang tự. Sau những trận lũ lớn cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII, đặc biệt là trận lũ năm 1611, khu chùa cũ bị vùi lấp. Một bộ phận cư dân chuyển sang hữu ngạn sông Hồng, lập làng Hành Cung, sau đổi thành Hành Thiện, và dựng lại Chùa Keo tại địa điểm hiện nay. Một bộ phận khác chuyển sang tả ngạn và xây dựng Chùa Keo ở khu vực Thái Bình cũ; vì vậy hai ngôi chùa Keo ngày nay có chung nguồn gốc lịch sử và cùng gắn với việc thờ Thiền sư Dương Không Lộ.
Chùa Keo trong – Thần Quang tự là thành phần có giá trị kiến trúc nổi bật nhất của quần thể. Chùa được tu sửa và mở rộng vào các năm 1628, 1671 và nhiều lần sau đó; đặc biệt cuộc đại tu năm 1671 để lại nhiều dấu ấn kiến trúc, chạm khắc mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII. Khu chùa rộng hơn một héc-ta, các công trình được bố trí đăng đối theo trục thần đạo và tổ chức theo kiểu “nội công, ngoại quốc”. Các hạng mục chính gồm Tam quan ngoại, Tam quan nội kiêm gác chuông, Phủ Mẫu, hai dãy hành lang, Chùa Phật, Đền Thánh, nhà Ký đồ, nhà Tổ, nhà oản, nhà bếp và các công trình phụ trợ.
Trong đó, Chùa Phật có mặt bằng chữ Công, gồm Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện; Đền Thánh cũng được tổ chức theo mặt bằng chữ Công, gồm Tiền đường, Trung đường và Hậu cung. Hai dãy hành lang chạy song song hai bên, mỗi dãy có 38 gian, kết nối các công trình và góp phần hình thành tổng thể kiến trúc “nội công, ngoại quốc”.
Giá trị nghệ thuật của Chùa Keo Hành Thiện thể hiện rõ ở hệ thống kiến trúc gỗ và các mảng chạm khắc. Đặc biệt, Tam quan nội kiêm gác chuông và Đền Thánh còn bảo lưu nhiều yếu tố mang phong cách thế kỷ XVII. Trên các cấu kiện gỗ xuất hiện phong phú các đề tài rồng, lân, phượng, hoa cúc, vân xoắn, tứ linh, tứ quý và nhiều mô típ trang trí truyền thống; kỹ thuật chạm bong kênh đạt trình độ cao, phản ánh đặc trưng mỹ thuật thời Lê Trung Hưng.
Chùa Keo ngoài – Đĩnh Lan tự được xây dựng muộn hơn. Theo Hành Thiện xã chí, công trình được dựng vào năm 1778, sau đó tiếp tục được trùng tu dưới các triều Nguyễn và trong thời hiện đại. Chùa có mặt bằng “nội công, ngoại quốc”, trong đó chùa chính gồm Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện; gác chuông được làm bằng gỗ lim theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái.
Quần thể hiện còn lưu giữ nhiều di vật, cổ vật và tư liệu Hán Nôm như tượng thờ, bia ký, sắc phong, nhang án, kiệu, chuông, khánh, hoành phi và câu đối. Đáng chú ý, năm 2026, ba bia đá thời Lê Trung Hưng tại Chùa Keo Hành Thiện được công nhận Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 03/02/2026, bổ sung thêm một lớp giá trị đặc biệt cho hệ thống di sản của chùa.
Với các giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, Di tích kiến trúc nghệ thuật Chùa Keo Hành Thiện, gồm Chùa Keo trong và Chùa Keo ngoài, được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2499/QĐ-TTg ngày 22/12/2016.
Đời sống văn hóa của di tích còn gắn với Lễ hội Chùa Keo Hành Thiện, được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2019. Lễ hội có hai kỳ chính vào mùa Xuân và mùa Thu. Kỳ hội mùa Thu là lễ hội lớn nhất trong năm, tưởng niệm ngày sinh Đức Thánh tổ Dương Không Lộ; theo lệ cũ kéo dài từ ngày 10 đến 16 tháng Chín âm lịch, còn hiện nay các nghi lễ chính thường diễn ra trong khoảng 12–15 tháng Chín. Các hoạt động tiêu biểu gồm phụng nghinh, dựng phướn, Thánh đản, múa rối, chèo cạn, bơi trải, cờ tướng và nhiều trò hội dân gian khác."