Đền Lảnh Giang

"Đền Lảnh Giang, tên chữ Lãnh Giang linh từ, hiện tọa lạc tại tổ dân phố Yên Lạc, phường Duy Tân, tỉnh Ninh Bình, bên bờ sông Hồng. Đền còn được dân gian gọi là Đền Lảnh hay Đền Quan Lớn Đệ Tam. Năm 1996, di tích được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích cấp quốc gia nhờ những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và tín ngưỡng.
Hiện chưa có tư liệu xác định chính xác thời điểm ngôi đền được khởi dựng. Theo thần tích và truyền thuyết địa phương, đền thờ Tam vị Thủy thần gắn với thời Hùng Vương thứ 18; ba vị được cho là có công phò tá Hùng Duệ Vương chống quân Thục, bảo vệ bờ cõi Văn Lang. Đền đồng thời phối thờ Công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử. Vì đây là hệ thống thần tích và truyền thuyết, các sự kiện trên cần được nhìn nhận như một lớp ký ức tín ngưỡng của cộng đồng, không nên đồng nhất với niên đại xây dựng thực tế của ngôi đền.
Trong quá trình phát triển tín ngưỡng, tục thờ thủy thần tại Lảnh Giang đã giao thoa mạnh với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Vị thủy thần thứ ba được cộng đồng tôn xưng và đồng nhất với Quan Lớn Đệ Tam, trở thành một vị thần quan trọng trong hệ thống thực hành hầu đồng tại đền. Đây là một ví dụ tiêu biểu cho quá trình tiếp biến giữa tín ngưỡng thủy thần bản địa của cư dân ven sông Hồng với hệ thống thần điện thờ Mẫu của người Việt.
Khuôn viên đền được nhiều nguồn giới thiệu có quy mô khoảng 3.000 m², cửa đền hướng về phía sông Hồng. Khu đền chính gồm ba tòa Tiền tế, Trung tế và Hậu cung, tổng cộng khoảng 14 gian, được tổ chức theo trục dọc với những đặc điểm của bố cục “nội công ngoại quốc”. Tam quan được xây theo kiểu chồng diêm tám mái, trong khi các công trình phía trong sử dụng kết cấu truyền thống với hệ thống mái ngói và nhiều mô típ trang trí mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
Kiến trúc hiện nay là kết quả của nhiều lần tu bổ qua các thời kỳ. Trên cây nóc tòa Đệ Nhị còn dòng chữ Hán ghi nhận một đợt trùng tu vào niên hiệu Bảo Đại năm thứ 18. Một số nguồn du lịch hiện quy đổi mốc này thành năm 1944, tuy nhiên theo hệ niên hiệu triều Nguyễn, Bảo Đại 18 tương ứng năm 1943; vì vậy khi xây dựng cơ sở dữ liệu nên ưu tiên ghi niên hiệu gốc hoặc chú thích rõ sự khác biệt trong cách quy đổi.
Đền hiện còn bảo lưu một hệ thống tư liệu Hán Nôm có giá trị, trong đó đáng chú ý là 11 đạo sắc phong, gồm 6 sắc thời Hậu Lê và 5 sắc thời Nguyễn. Sắc sớm nhất được công bố thuộc niên hiệu Chính Hòa, sắc muộn nhất thuộc niên hiệu Khải Định 9 (1924). Ngoài ra còn có các bản thần tích và nhiều đồ thờ, hoành phi, câu đối cùng các hiện vật phục vụ nghi lễ.
Đời sống văn hóa của di tích gắn đặc biệt với Lễ hội Đền Lảnh Giang. Theo lệ cũ, lễ hội có hai kỳ vào tháng Sáu và tháng Tám âm lịch, từ ngày 18 đến 25. Hiện nay, kỳ hội tháng Sáu là lễ hội chính, với các nghi thức như rước nước, rước kiệu, tế lễ, hầu thánh và các trò chơi dân gian; tháng Tám chủ yếu tổ chức dâng hương, tế tạ. Với những giá trị tiêu biểu, Lễ hội Đền Lảnh Giang được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2459/QĐ-BVHTTDL ngày 20/6/2017."