Đền Ngự Dội

Tương truyền, một lần Đức thánh Tản Viên sau khi đánh giặc khi đi qua bờ sông Hồng, gặp 2 thôn nữ đi cắt cỏ, ngài liền nhờ hai cô thôn nữ mang sọt xuống sông múc nước tẩy bụi trường chinh. Thấy 2 cô thôn nữ ngạc nhiên, Ngài nói “cứ lấy nước vào khắc đựng được” và quả thật, hai đôi sọt tre ấy đã gánh được nước từ dưới sông lên, không trào một giọt không sánh một ly. Thấy lạ, các cô vội về loan báo nhưng khi dân làng chạy đến thì Ngài đã hóa Thánh trên đỉnh non Tản. Dân làng Duy Bình vội dâng lễ sống chạy theo ra bờ sông bái vọng. Trước khi trở về núi Tản, ngài ở lại rừng Lim, phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, Hà Nội dạy dân cấy lúa nước, trồng dâu, nuôi tằm, chống hạn, đắp đê ngăn nước
Nghi lễ “Mộc dục” tái hiện truyền thuyết về hai cô thôn nữ đang cắt cỏ trên bãi La Phiên, nhờ có phép nhiệm màu kỳ diệu của Đức Thánh Tản, mà đã gánh được nước sông Hồng từ đôi sọt tre dân dã, dâng lên để đức Ngài tẩy bụi trường chinh, trước khi hóa Thánh trên đỉnh non Tản hùng vĩ. Đây là biểu hiện sinh động của truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.
Vào ngày chính lễ - ngày 15 tháng Giêng, hàng vạn người dân, du khách thập phương, với nhiều độ tuổi khác nhau, trong trang phục đủ màu sắc, tưng bừng, phấn khởi tham gia đoàn rước kiệu. Tiếng bước chân rầm rập, hòa trong tiếng cười nói, tiếng trống, chiêng làm rộn vang cả một vùng. Đoàn rước kiệu gồm khoảng 60 thanh niên trẻ khỏe khởi hành từ Đền Và từ lúc 5 giờ sáng, rước kiệu đi qua nhiều tuyến phố của thị xã Sơn Tây, qua sông Hồng bằng 15 chiếc tàu, phà lớn nhỏ. Đến ngoài 12 giờ trưa cùng ngày thì tới Đền Ngự Dội.
Để thể hiện tấm lòng thành kính, sự biết ơn công đức cao dày của Đức Thánh Tản, khi đoàn rước kiệu tam Thánh từ Đền Và (Sơn Tây) vừa cập bến phà, nhân dân ùa ra, đứng chật kín hai bên đường, tưng bừng reo vui, vẫy tay, vẫy cờ hoa đón chào. Thời điểm này, tại khu vực tổ chức lễ hội Đền Ngự Dội có hàng vạn người dân, du khách thập phương về đây trẩy hội, ai cũng phấn khởi, tự hào khi đuợc hòa mình trong bầu không khí tưng bừng, phấn khởi và được đón tiếp cởi mở, nồng hậu.
Trước sự hiện diện của các khách quý thập phương và nhân dân, các nghi lễ Tế yên vị, tế mộc dục, tế đốn, tế khải hoàn… lần lượt được tổ chức long trọng, trang nghiêm và thành kính. Không chỉ nghi lễ tế mộc dục mà nghi lễ tế đốn cũng có những nét rất tiêu biểu, đặc sắc. Lễ vật trong lễ tế đốn là một con lợn đã cạo sạch lông, mổ sạch lòng gan, nhưng còn để lại một chòm lông gáy, kinh dâng đức Thánh. Lễ vật được người dân thực hiện nhằm tái hiện lại truyền tích xưa, khi đức Thánh Tản ngư trên cánh bãi La Phiên vào ngày rằm tháng Giêng năm Tý, biết tin này, người dân La Phiên vội vàng ùa ra, mổ lợn kính dâng đức Thánh, nhưng không kịp vì đến giờ đức Thánh đưa quân đi trẩy hội mừng công. Những câu chuyện truyền kỳ đó đã viết thêm vào trang ngọc phả của huyện Vĩnh Tường xưanhững dòng văn hóa tâm linh tốt đẹp, được truyền tụng như một bản hùng ca về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Tiếp theo là nghi lễ Quay kiệu. Theo quan niệm dân gian, đây là lúc vị Thánh thể hiện sự vui mừng thăng hoa và là niềm vui hội ngộ của các vị Thánh. Các thanh niên trai trang khiêng kiệu, di chuyển những bước đi nhịp nhàng để kiệu có thể quay, thậm chí có thể bay. Nghi lễ Quay kiệu là một hoạt động quan trọng, thể hiện sức mạnh cộng đồng, niềm tin vào sự phù hộ của các vị Thánh, mong ước một năm mới bình an, may mắn, mùa màng bội thu. Nghi lễ này góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần, tạo nên không khí tưng bừng, náo nhiệt, với sự hòa quyện giữa linh thiêng và đời thường.
Sau khi các nghi thức tế lễ khép lại, tại Đền Ngự Dội xuất hiện một luồng gió mạnh, khiến những lá cờ Tổ quốc, cờ thần, cờ hội… đều phần phật tung bay về hướng núi Tản, bầu trời sầm sì như muốn mưa. Thời điểm này nghi thức rước kiệu hồi cung về Đền Và lại được tiến hành rất trang nghiêm, trang trọng, thành kính. Đoàn rước kiệu đưa đức Thánh hồi cung và yên vị tại Đền Và (Sơn Tây).
Lễ hội đền Ngự Dội khép lại trong bầu không khí vui tươi, ấm áp, an lành và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân và khách thập phương, nhân dân lại ngóng chờ vào mùa lễ hội chính tiếp theo sau 3 năm nữa. Lễ hội là dịp để gắn kết cộng đồng, tăng cường tình đoàn kết giữa hai địa phươngbên bờ sông Hồng cũng như bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của vùng đất bãi sông Hồng nói riêng và của người Việt nói chung.